Chuyện Gắn

Đăng ngày bởi Nguyen Van Duc

CHUYỆN RẮM
Nguyễn Hà Nam.
- Oh, thế chú quê đâu?
- Dạ em quê Chí Phèo anh ạ!
- Hà Nam hả!
- Vâng anh! Tôi liền đọc cho anh nghe câu thơ:
“ Hà Nam danh giá nhất ông Cò.
Trông thấy ai, ai chẳng dám ho…”
- Này, đúng thật đấy chú ạ! thời Pháp thế, còn thời ta mà đi qua quê chú, gặp phải cảnh sát giao thông thì có mà ra bã.
Ôi! quê tôi, nghe anh nói, thật có chút chạnh lòng, xấu hổ, nhưng chúng tôi vẫn không khỏi tự hào về quê mình. Ở đâu chả có cây đa, bến nước, sân đình, nhưng Chí Phèo thì cả nước không đâu có, không những trong nước, mà đến quốc tế thì Chí Phèo quê tôi, đâu có kém gì AQ bên Tàu. Hai nhân vật huyền thoại đã dần trở thành những kẻ đại diện cho những đặc tính xấu tiêu biểu của hai dân tộc, thế lẽ gì mà không tự hào!
- À mà chú mày! có lẽ báo của anh không thể đăng chuyện của chú gửi đâu! quê hương cụ Nguyễn Khuyến thiếu gì chuyện hay trên đời, sao chú lại viết về Rắm! cái khí thải cặn bã của cơ thể, ai cũng muốn dấu nó đi, chú lại khơi ra….thôi chú ơi! cũng có ý nghĩa đấy, nhưng bình dân lắm, người ta cười cho.
- Anh ạ! Em biết điều anh nói, xong quả thực em không sao hiểu được: sao lại bình dân, sao lại cười….nếu thử hỏi không có nó thì sao nhỉ? và nếu họ cười thì cứ cho họ cười! cười gì mà chả quí. Cuộc sống của chúng ta vốn đã có nhiều cái không khóc được thành lời rồi, sao không thêm cười ! Hàng ngày cuộc sống vẫn đang diễn ra với cái thứ ngôn ngữ bình dân, dung tục….đấy chứ! người ta có nói văn hoa theo sách đâu! vậy ai dám bảo là không cao thượng, trong sáng, không văn hoá.
Thôi kệ họ, Em cứ viết theo ngôn ngữ quê em, quê mùa, bình dân, kể cả dung tục nữa, cái mà những người dân quê vẫn đang làm, đang sống. Nay kể lại, nếu các bác cười được….xin cho nhà em một like.
Tôi sinh ra và lớn lên bên một làng nhỏ ven bờ sông Châu Giang, làng tôi có một nửa làm nông nghiệp, một nửa làm thủ công ăn gạo phiếu (gạo nhà nước bán theo định lượng, có sổ hoặc tem phiếu). Gia đình tôi và khoảng gần ba mươi gia đình thủ công làm mũ, gọi là mũ rút, bên ngoài bọc vải kaki, mũ được làm ra từ cây muồng muồng. Tôi không biết chắc chắn lắm, hình như nó cũng được gọi là cây điền thanh, khi trồng ngập nước, phần ngập nước nó xốp lên, phình to và mềm. Người ta thường dùng phần đó để làm mũ rút và nút chai. Ngày thời Pháp, nhân viên nhà nước và cảnh binh thường hay đội, nếu các bạn xem phim, hay ảnh thời đó thì sẽ hình dung được cái mũ đó như thế nào!
Các gia đình chúng tôi làm tập trung trong một, hai căn nhà lớn, mỗi nhà được chia khoảng 5-7 m2. Có lẽ làm thủ công và tập trung cho nên chúng tôi cảm thấy mình có chút tiến bộ, văn minh hơn những người làm nông nghiệp, như giờ giấc, tính tập thể và đặc biệt phá cách trong suy nghĩ, sinh hoạt. Chuyện gì chúng tôi có thể lôi ra làm đề tài kê kích, bàn tán, trêu chọc lẫn nhau. Nên không có ai mà không có biệt danh, như tôi, chúng nó gọi là “Nam gà” vì U tôi tên là Tác, cái tên mà người ta nhắc đến khi gọi gà. Bạn tôi, thằng tên là “Mạnh cá” thằng thì “Hải bò”, thằng “Ngọc cáo”… vì một thằng mẹ nó tên là Bống, thằng kia thì anh nó bắt trộm bò, còn thằng Ngọc, cạnh mép nó có 2 cái vạch trông cứ như ria cáo. Thằng Việt, em họ tôi, bố nó tên là Hạt thì chúng nó gọi là “Việt hột”. Thật đểu! Thằng Hà, thằng Quỳnh có biệt danh là “Hà nhỡ” và “Quỳnh tịch” vì ông chú lọ xa lắc, xa lơ của chúng nó có tên là Nhỡ và Tịch. Khổ thân các ông ấy, tưởng chả liên quan gì cứ lại bị chúng nó réo tên lên, chửi suốt ngày.
Biệt danh, thường gắn với tên bố, mẹ. Cũng có tên xem ra chả liên quan gì, nhưng miễn là nghe đểu hay buồn cười là được. Có một thằng tên là “Hoà két” bởi nó đánh rắm như két, không biết con chim két có đánh rắm không? nhưng quê tôi có câu “đánh rắm như két ấy”.
Chả hiểu sao, từ bao giờ, bọn trẻ chúng tôi chơi trò nợ rắm, có nghĩa là nếu tôi đánh rắm, tôi phải chạy đến chỗ thằng bạn tôi, đánh cho nó nghe thấy, nếu nó phát hiện là đến để đánh rắm thì nó sẽ ù té, bỏ chạy, để không phải nghe thấy tiếng, không nghe thấy tiếng thì coi không được tính, hay xịt cũng không được tính. Nên khi đánh phải bí mật tiếp cận, nếu cần phải giữ chặt nó để nó không chạy được, đánh thì đọc rõ số rắm mà nó nợ mình, hay mình nợ nó. Giả sử nó nợ mình 100 cái rồi, thì khi mình đánh 3 cái, đọc cho nó nghe: này 101, 102 này, 103 đấy, nhớ lấy nhé! nếu mình nợ nó 100 thì mình sẽ trừ dần 99, 98,…này còn có 97 thôi nhé. Vì cố dặn thêm nên có thằng ra cả bã đấy!
Nhiều khi cãi nhau, do nhớ không chính xác hay ăn gian, cãi xịt hay không xịt, cười chảy nước mắt. Thằng “Hoà két” là thẳng nổi tiếng nhất, bởi 4,5 người toàn nợ nó mấy trăm cái rắm, nó có tài là đánh một lúc rất nhiều. Mọi người bảo nó cuốn lá cây thị hút…thì mới nhiều rắm thế.
Đấy là bọn trẻ, còn người lớn thì sao? Tôi bị vố đau; chuyện là như thế này: một hôm tôi đang mải ngồi làm thì ông Vấn, ông ấy nhiều tuổi hơn cả bố tôi, nhà ông ấy làm cạnh nhà tôi, gọi giật tôi, bảo:
- Nam! Cầm lấy mấy cái dây, lại đây! thấy gọi, giọng nói có vẻ hệ trọng, gấp lắm. Tôi vội vàng đứng bật dậy vơ vội nắm dây đay chạy lại, ông ấy đang ngồi bỗng nghiêng đít lên đánh liền lúc 3 cái rắm.
- Ứ ử..ứ ử…ứ ử ử.
Và thản nhiên nói như không có gì:
- Đấy! Ếch đấy! bắt trói nó lại!
Mấy chục người cùng làm, cười ồ lên; tôi bị lừa, vừa xấu hổ vừa buồn cười, vừa tức. Lại còn một bà tên là Thứ, chưa thấy người đã thấy rắm, người ngủ, rắm thức, chuyên trị vừa đánh vừa đủng đỉnh nói “nó mệt, nó thở, chứ ai nỡ đánh nó!” Thật! Ai cũng phải buồn cười.
Thế đấy cái rắm, cái mà mọi người thường cho là thô tục, bẩn, thiếu văn hoá ấy hàng ngày đã mang lại không biết bao nhiêu tiếng cười sảng khoái cho người dân quê tôi. Những câu chuyện về nó chắc hằn mãi trong kí ức của nhiều người, mà mỗi khi nhắc lại, chúng tôi lại được bữa cười chảy ra nước mắt…thế thì sao lại thô tục, bẩn, thiếu văn hoá được!
Nhưng cũng có chuyện không hay về nó; Tôi nhớ nhất là mấy chuyện sau:
Chuyện thứ nhất:
Năm 1976 tôi đang học lớp 6, hôm đó vào giờ học văn của cô chủ nhiệm, cô Thái. Cô đang giảng bài thơ “Bà má Hậu Giang” của nhà thơ Tố Hữu; thằng “Hải yến” người làng Triệu, làng bên cạnh làng tôi. Nó ngồi bên trên tôi một bàn, đang ngồi bỗng đứng dậy, trùng đầu gối, khom người đánh một cái rắm…. to dã man.
….Bủm…
Ối giời ơi! thật chưa từng thấy trên đời, lại có một thằng học trò đểu như vậy, cả lớp tôi cười lăn, rũ rưỡi….đứa nào cũng gục mặt xuống bàn, cắn răng, cắn lợi để không cười thành tiếng. Tôi đang nhai miếng khế thằng bạn cho, nhả ra thì tiếc, nuốt vào không trôi, cố nhịn, xong cuối cùng cũng phải nhè ra vì không chịu nổi, nước mắt nước, mũi giàn rụa. Chắc lúc đầu cô Thái định lờ đi, mọi người thường ngại khi nói về cái đấy, nhất là trước mặt học trò. Thấy học sinh cười nghiêng ngả không thôi, không thể chịu được nữa, cô quát to:
- Hải đứng dậy! Đồ vô văn hoá! xéo khỏi lớp!
Nó đứng dậy bình thản đi ra khỏi lớp…..Cuối năm đó thì nó cũng nghỉ học. Loại người như nó, chắc chả có trường nào giáo dục nó thành người tử tế được!
Chuyện thứ hai:
Tôi nghe các cụ trong làng kể: làng Ngái quê tôi là điểm thứ hai được lập đền thờ Mẫu riêng, sau Phủ Mẫu ở Phủ Giày. Không biết có phải không! Hay các cụ tự hoàng tráng lên như thế, nhưng toà nhà thờ Mẫu thì rất to và đẹp, nằm ở cuối làng trông ra cánh đồng. Khi còn bé, buổi tối chúng tôi thường chạy xuống chơi ở dưới Phủ, đó nhà khu đất rộng, nhiều cây nhãn cổ thụ, có những ghế và trụ đá có thể nằm lên ngủ, mùa hè thì mát lạnh. Có 2 toà nhà cổ, nhà lớn quay hướng nam đó chính là Phủ thờ Mẫu, nhà nhỏ hơn quay hướng đông thờ Thần Hoàng làng, cùng quay mặt ra khu sân rất rộng. Khi hợp tác hoá nông nghiệp họ đã biến cả khu đó thành văn phòng và nhà kho của hợp tác xã nông nghiệp. Có chăng từ đó làng tôi bắt đầu đi xuống ….chả thế mà cái làng bé tí chưa đến bảy chục nóc nhà khi tôi đi học đại học đã có hơn 60 người có trình độ từ trung cấp và chủ yếu là đại học trở lên; 40 năm, nay quay về thấy hiếm mới có một đứa đỗ đại học; thật buồn!
Để làm kho hợp tác, Mẫu phải lên ở nhờ nhà chùa, nên trong chùa 3 bệ tượng đầu tiên giành đặt các tượng, tranh, đồ thờ Mẫu. Thời kỳ đó chính quyền cho là mê tín dị đoan nên các khoá lễ Mẫu, hầu Thánh…cũng không thường xuyên, phải làm chui, làm lủi, nhưng tôi thì hầu như lần nào cũng dự.
Một buổi tối bà đồng Điểm ở Phủ Lý về hầu Mẫu tại chùa, chúng tôi kéo nhau lên xem, đến giá Cô Bơ. Cô đang tâm tư, buồn thảm, thơ thẩn chèo đò….Có lẽ mải thể hiện, tâm trạng, cảm xúc của Cô Bơ, mà bà đồng quên kiểm soát, nên chợt:
….Buýp…. Một cái.
Mọi người nghe thấy, nhưng cố coi như không, chỉ có số ít người lớn cố nhịn không được, mới mủm mỉn cười…Chú Khuyên cung văn nhanh nhảu, hát:
“Bây giờ lắm địch nhiều, nhiều gian
Cô nã súng lục, khi bơi thuyền rồng ý i a…”
Khổ thân bọn tôi không dám cười, cười sợ Cô ném cho cái mái chèo thì bể sọ, vội bịt miệng chạy ra ngoài. Vẫn nghe văng vẳng bên trong, cung văn hát tiếp:
“Thuyền về tại bến Cô Tô ơ ơ ơ….
Xin cô gác mái chèo bơi….Cô lên ý y ì đền”
Hầu dâng tấu:
“Lạy cô, cô, giáng đền, giáng phủ, cô phù hộ, độ trì cho bách gia trăm họ được tươi, được tốt. Cô ban tài phát lộc, dưới thì cô nâng, trên thì cô che, cô dỡ….cô cho các giá, các họ chúng con được xuôi chèo, mát mái…”.
Thằng “Quí nõ” cùng chạy ra với chúng tôi, nói leo tiếp “nhưng lạy cô, xin cô đừng nã súng lục…làm chúng con chạy mất dép”.
Lạy cô, cô tha cho cái ghế họ Nguyễn nhà con….con chỉ kể lại chuyện vui thôi chứ không có ý gì bảng bổ cô đâu!, lạy cô, con xám hối cửa cô, lạy cô!
Chuyện thứ ba:
Một buổi tối mùa hè; “Công lùn”bạn tôi có tình ý với em Thủy, một cô gái làng bên cạnh, bạn bè chúng tôi đều ủng hộ, cho rằng họ là một đôi hợp lý. Chồng bồ đội, nghỉ chế độ bệnh binh, làm việc ở xã, vợ giáo viên, còn gì bằng! Nhưng bạn tôi là người dát gái, phải có người kèm, hộ tống thì mới dám sang nhà bạn gái chơi. Chúng tôi thúc ép mãi và tối hôm đó, ba thằng mò sang nhà Thủy chơi.
Thấy chúng tôi đến chơi cô bé chắc ngạc nhiên lắm, mời chúng tôi ngồi chơi uống nước và ăn ngô rang. Đang tán chuyện vui vẻ…chắc tình hình “bancăng” và có thể vẫn hơi choáng vì lần đầu tiên được 3 anh đến chơi, không kiểm soát được tình hình “libi” nên cô em lỡ đánh một cái, đương nhiên nó không có tiếng kêu, nhưng hỡi ôi! thối dã man …chắc tại cô em mới xơi hạt mít luộc.
Khổ thay, 3 thằng tôi ngồi ngược gió, nên biết ngay là ai đánh, dở khóc, dở cười, thế là chuyện cứ nhạt dần ….vài câu, chúng tôi chào ra về.
Khổ nỗi tôi đã hay cười, không chịu được, vừa ra cách nhà Thủy gần 100 mét, ba thằng đã bò lăn ra cười, không sao nói thành lời, mãi sau tôi mới nói:
- Ô hô….mẹ nó!…hôm nay vớ phải của bở…này Công tao hỏi thật mày nhé! sao nó lại thối thế! mùa hè nóng, gió lại quẩn, các cụ không về sớm thì ngất nặng.
- Này, tôi đảm bảo bác mà lấy nó về…mùa đông, xơi hạt mít luộc vào, đắp chăn bông mà nó búc ra, đảm bảo vợ chồng ông cấp cứu ở Viện 2 là cái chắc! thằng “Thành cá” nói. Chả là 2 thằng có họ với nhau, thằng “Thành cá” là em nên nó gọi thằng “Công lùn” là bác xưng tôi.
“Công lùn”cũng cười lăn lóc.
Quả thực điều đó là bình thường trong tình huống không bình thường, chúng tôi cũng không bôi bác gì nhiều về cô bạn gái ấy, nhưng có lẽ duyên số mà bạn tôi không nên vợ, nên chồng. Cứ gặp nhau, nhắc lại chuyện ấy là chúng tôi lại cười chảy nước mắt.
Chuyện thứ tư:
Sau khi học đại học ra trường, tôi được phân công đi làm, thời chúng tôi không phải xin việc mà được nhà nước phân công công việc. Tôi đi làm, nhanh nhẹn, nhiệt tình, hiểu biết, nên cũng có nhiều người quí. Trong số đồng nghiệp tôi thích có cô bé Hà xinh xắn, ngoan ngoãn…. xem chừng nàng cũng rất có cảm tình với tôi, tôi nghĩ nếu mình ngỏ lời chắc cũng nhận được tình cảm của nàng. Xong tôi là người dát gái, dát gái đến mức tệ hại….bằng chứng là sau này, người mà tôi đầu tiên ngỏ lời yêu….cũng chỉ dám bằng viết thư và nhờ bạn tôi đưa hộ, trong khi chúng tôi vẫn gặp nhau thường xuyên. Tuy cũng không đến nỗi nói chuyện “đảng và chính phủ” nhưng cũng chả dám nói động đến chuyện tình cảm.
Quay lại chuyện tình cảm của Hà và tôi, thời gian trôi đi…cuối cùng tôi quyết không thể không nói với nàng. Một hôm chúng tôi cùng trực cơ quan, tôi liều sống, liều chết rủ nàng ra bờ sông chơi.
Đêm ấy có lẽ khoảng hơn mùng 10, trời trong, trăng sáng, gió nhẹ…ngồi bên bờ sông Đáy cảnh sắc thật vô cùng tuyệt vời. Tâm hồn tôi cứ lâng lâng theo câu hát:
“ Dòng sông Đáy quê em…
Sông trăng hay sông lụa
Nong kén vàng như lúa
Trọn vẹn một góc trời….”
Đêm trăng, bãi mía, nương dâu, mái đình, cây gạo…xa xa là dãy núi đá vôi Thanh Sơn với đủ loại hình voi quỳ, hổ phục…được Trăng phủ lên một màu vàng dịu mát, tạo nên một bức tranh sơn thuỷ, hữu tình, lung linh, huyền ảo. Ôi Trăng, Trăng thật tuyệt vời! Trăng mới thi vị làm sao! Trăng mới thân thương biết bao! Một thằng khô khan như tôi, mà đêm nay, tâm hồn cũng ướt đẫm ánh trăng. Câu ca dao mẹ ru em thủa nào cứ nghe như văng vẳng đâu đây:
“À ơi à, à.. à …ơi!
Thằng cuội ngồi gốc cây đa…
Để trâu ăn lúa…ớ… gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ…ơ… trên giời
Mẹ còn cưỡi ngựa …ơ…đi mời..ờ. quan…à… viên.
Sống dưới trăng, ngủ bên trăng, mơ trong trăng từ khi còn trong vòng tay mẹ thì sao dân quê tôi không yêu trăng. Tôi sao có thể tưởng tưởng nổi, nếu tuổi thơ chúng tôi lại có thể thiếu đi những đêm trăng được nhỉ?
Ngồi bên em vừa mơ mơ, màng màng mà sao câu chuyện vẫn cứ chỉ xoay quanh công việc; chừng gần tiếng đồng hồ, nghe ra cũng sắp hết chuyện và có thể nàng sắp bảo về…Oh thế thì lại lỡ mất! Thằng đàn ông trong tôi thức dậy, tự nhủ thôi cứ nói bừa đi, sợ gì! Quả thực đầu óc tôi lúc đó cẳng thẳng lắm, có khi còn hơn chú lính ra trận bắn phát súng đầu tiên; Tôi đang không biết mở đầu thế nào thì…bỗng:
Í í í ….
Thôi chết mẹ! tôi giật mình kìm lại, không kịp nữa rồi.
Ử.ử.ử.
Ối cha mẹ ơi! Thật khốn nạn cho thân tôi, giá mà có lỗ đất nẻ thì tôi đã chui tọt xuống, không một lời từ biệt. Sao lại tệ hại đến thế kia chứ, đúng cái giờ phút trọng đại, thơ mộng nhất này…. cơ quan trung ương lại mất kiểm soát (hay tại trăng!), lòi ra một cái! Tình yêu là trăng, là hoa, là gió nhẹ, là mây bay, một túp liều tranh hai trái tim vàng….chứ sao lại thế này! mà khổ tôi đâu phải là loại người đấy… đâu cơ chứ!
Chắc lúc đó nhìn mặt tôi thảm lắm! Sau chừng một phút ngây dại, tôi lắp bắp nói:
- Mình… về …đi.
Sau đó, mỗi lần chỉ thoáng nghĩ qua đến chuyện đấy là tôi lại thấy xấu hổ mãi không thôi ….thì sao còn dám nói chuyện tình yêu với em nữa chứ!
Thề có Chúa là tôi là người tử tế! Tôi nghĩ em chắc cũng nghĩ như tôi, song chúng tôi không đến được với nhau…thật! trời hại tôi.
Chuyện thứ năm:
Sau xảy chuyện trên, tôi không dám thổ lộ với ai; Lâu rồi, một hôm kể lại chuyện cũ cho thằng bạn bác sỹ nghe, nó bảo:
- Ồ mày không biết đấy, có người phụ nữ cứ đến lúc lên đỉnh lại cười ngặt nghẽo, nên ngày xưa khi tuyển Phi cho nhà vua, có một công đoạn gọi là sờ người, để sớm phát hiện xem cô nàng nào, lúc sướng lại cười. Nhưng tao nói cho mày biết, đặc biệt hơn còn có cô gái lúc lên đỉnh, thì lại đánh ra hàng loạt rắm, cứ như bắn đại bác ấy…
- Thôi đi ông, đừng bốc phép nữa!
Bạn tôi cười nói: tao nói thật đấy!
Nói thì nói vậy, nhưng tôi tin là có thật, và cũng thật phúc bẩy mươi đời nhà tôi, tôi chưa gặp phải cô người yêu nào lại bắn đại bác chào mừng vào những lúc như thế!
Các bạn ạ…..Tôi thề tôi là người tử tế, chuyện tôi nói là thật…..Tôi nghĩ chả có gì là dung tục, là thấp hèn, là xấu cả!…những cái xảy ra hàng ngày thậm chí còn dung tục hơn, nhưng nó vẫn là một phần không thiếu được của cuộc sống. Nó vẫn xảy ra, vẫn tồn tại, dù chúng ta có cố tình quên nó đi. Và như bạn thấy đấy! Nó bất ngờ lên tiếng để nói rằng: tôi tồn tại, tôi không xấu….cái xấu nó ở trong đầu anh chứ không phải tôi.
Nên xin các bạn đừng nói nó là: không có văn hoá, là thô, bẩn…Thiếu văn hóa hay thô bẩn thì sao mà quê tôi lại có câu thơ, điệu lý hay đến thế:
“Anh ở làng Dâu
Qua cầu đến hội
Năm chờ, tháng đợi
Đêm hội sang mùa
Xin mời anh ca
Xin mời chị hát
Giao duyên
Xin được
Cùng tỏ
Qua khúc Giao Cầu.
Rồi:
Lại đây, ăn một miếng trầu
Không ăn, cầm lấy cho nhau vừa lòng.
Trầu này, trầu tính, trầu tình…
…..
Em còn son, anh cũng còn son
Ước gì ta được làm con một nhà
Em về thưa với mẹ cha…”.
Đấy, Hà Nam quê tôi!
Tôi chợt nhớ đến một câu nói của ai đó: “hành động không bao giờ xấu xa, mà cái xấu xa ở chỗ: cái gì đưa đến hành động đó! ”. Đời người thiếu gì lúc ta không thể kiểm soát được bản thân mình, vấn đề ở chỗ: cái bình thường xảy ở chỗ không bình thường mà thôi.
Do vậy chúng ta cần sự nhân ái, vị tha.
Thề có Chúa! Tôi là người tử tế!

Tác giả: Nguyễn Sơn Nam sonnam1961@yahoo.ca

Speak Your Mind

*